Tư vấn miễn phí:
0914 262 018

Website được lập ra nhằm tổng hợp tất cả những bài thuốc hay từ Dân Gian để mọi người tham khảo và có thêm sự lựa chọn cho mình!


MIỄN PHÍ VÀ MÃI LUÔN NHƯ THẾ!

-----------o0o----------

Bài thuốc dân gian

Bệnh động kinh và phương pháp điều trị

Ðộng kinh là những cơn ngắn, định hình, đột khởi, có khuynh hướng chu kỳ và tái phát do sự phóng điện đột ngột quá mức từ vỏ não hoặc qua vỏ não của những nhóm nơron, gây rối loạn chức năng của thần kinh trung ương (cơn vận động, cảm giác, giác quan, thực vật, ...), điện não đồ ghi được các đợt sóng kich phát. Mất ý thức cũng là biểu hiện thường gặp trong hoặc sau cơn.

Sinh lý bệnh

Ðã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng đến nay chỉ biết được các hiện tượng điện sinh lý, sự thay đổi chuyển hóa, ... xảy ra trong cơn và sau cơn. Bản chất động kinh là gì vẫn còn bí ẩn. Ðặc trưng bệnh lý quan sát được trong cơn động kinh là cơn phóng điện kịch phát, thành từng đợt và lặp đi lặp lại của một quần thể nơron. Thấy có sự khử cực mạnh ở màng tế bào (còn gọi là sự di chuyển vị trí khử cực), xảy ra ở các nơron của ổ động kinh làm nảy sinh một điện thế hoạt động.

Trong cơn động kinh có nhiều phản ứng chuyển hóa não xảy ra như tăng kali và giảm canxi ngoài tế bào, giải phóng một lượng bất thường các chất dẫn truyền thần kinh và các peptide thần kinh, tăng lưu lượng máu nơi tổn thương, tăng hấp thụ glucose tại chỗ. Các hiện tượng chuyển hóa trên vừa là hậu quả, vừa là nguyên nhân gây tăng kích thích các nơron góp phần tạo ra ổ động kinh và lan truyền cơn động kinh.

Có nhiều cơ chế khác nhau để gây được cơn động kinh thực nghiệm trên não bình thường hoặc bệnh lý. Mọi sự tăng kích thích hay giảm ức chế đều làm tăng quá mức tính kích thích của nơron dẫn tới một phóng điện thành ổ. Phương pháp thường dùng để gây động kinh thực nghiệm trên động vật những năm gần đây là dựa vào cơ chế làm nghẽn ức chế như dùng chất đối kháng axit gama - aminobutiric (GABA). GABA là một dẫn truyền thần kinh loại ức chế, nên các chất đối kháng nó gây co giật ở người và động vật. Người ta cho rằng một số thể động kinh toàn thể là do một sự bất thường của hệ thống ức chế GABA và cũng đã chứng minh nhiều loại thuốc như phenobarbital, benzodiazepine và axit valproic làm tăng sự ức chế của GABA, do đó có tác dụng chống cơn động kinh.

Bằng phương pháp kích thích hóa, lý có thể gây cơn động kinh. Như ở người bằng một dòng điện với cường độ nào đó dễ dàng gây động kinh. Cơn này tự duy trì ngoài các kích thích ban đầu. Các kích thích dưới ngưỡng không gây động kinh nhưng nếu lặp đi lặp lại, định hình trong khoảng cách đều, các phản ứng sẽ được tích lũy và đến một lúc nào đó một kích thích tương tự có thể gây động kinh. Các cơn động kinh tự phát cũng có thể xảy ra không cần có kích thích mới được gọi là sự nhen nhóm.

Nói tóm lại tăng cường tính kích thích của nơron là kết quả của sự phối hợp 
2 yếu tố:          

Ngưỡng của động kinh  mà mức độ di truyền đã được xác định.

Sự bất thường về chuyển hóa, tổn thương não... làm ngưỡng nói trên hạ thấp tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Bệnh động kinh có đặc tính lặp đi lặp lại nhiều cơn, còn cơn động kinh có thể chỉ một phản ứng nhất thời do rối loạn thoáng qua do hạ glucose máu, sốt...

Phân loại động kinh

Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới năm  1981.

Theo lâm sàng

Cơn cục bộ:

Cơn cục bộ đơn thuần (vận động, cảm giác, thần kinh thực vật).

Cơn cục bộ phức tạp.

Cục bộ toàn bộ hóa.

Cơn toàn thể

Cơn vắng ý thức (cơn bé).

Cơn cứng - giật cơ (cơn lớn).

Cơn giật cơ.

Cơn mất trương lực.

Cơn co cứng cơ.

 Cơn bổ sung:

Ðộng kinh liên tục.

Trạng thái động kinh.

Cơn không xếp loại.

Theo nguyên nhân

Ðộng kinh triệu chứng - tổn thương thực thể khu trú ở não.

Ðộng kinh nguyên phát (vô căn).

Theo điện não đồ

Loại phóng điện kịch phát khu trú là động kinh cục bộ.

Loại cơn biểu hiện các đợt phóng điện kịch phát, đồng thời đối xứng, lan tỏa hai bên, loại này tương ứng với cơn toàn thể .

Nguyên nhân

Ðộng kinh vô căn

Có thể có yếu tố di truyền thấy trong 10 - 25%. Do sự đột biến gen đơn độc di truyền liên quan đến kênh ion trên các gen mã hoá (4  hay (2 của các thụ thể nicotinic, acetylcholin, kênh kali phụ thuộc.

Ðộng kinh triệu chứng

Có tổn thương não mắc phải.

Chấn thương sọ não

Cơn động kinh đầu tiên thường xảy ra trong vòng 5 năm sau chấn thương, rất hiếm sau 10 năm (có ý nghĩa trong giám định bệnh tật).                     

Còn sang chấn sọ cổ điển phổ biến hơn, gây nhiều dạng động kinh trừ cơn vắng ý thức và cơn giật cơ hai bên.

Sau phẫu thuật sọ não.

U não

 Phần lớn u trên lều. Ở người lớn (20 - 50 tuổi) 75% các cơn động kinh do u. So với các nguyên nhân khác động kinh do u chiếm 10%. U hay gây động kinh u lành tính, u tế bào ít nhánh, u màng não, u tế bào hình sao. Rất ít khi là do u acï tính hoặc do di căn (từ ung thư phổi, vú...).

Nguyên nhân mạch máu

Tai biến mạch máu não: Các cơn gặp trong tụ máu (xuất huyết) thường ở giai đoạn cấp, còn ở thể nhồi máu não lại vào giai đoạn thành sẹo.

Phồng động tĩnh - mạch: Thường phát hiện bởi một cơn động kinh, sau phẫu thuật thì vẫn còn 2/3 có cơn động kinh do sẹo.

Nhiễm khuẩn nội sọ

Apxe não (26%).

Viêm não, viêm màng não trong giai đoạn cấp nhất là ở trẻ em.

Ký sinh trùng

Ấu trùng sán lợn, giun chỉ.

Các nguyên nhân khác

Rượu.

Rối loạn điện giải: Hạ K+, Ca++, giảm hoặc tăng Na+ máu.

Thiếu O2 cấp, ngộ độc CO2, heroin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc chống sốt rét, INH, cai thuốc ngủ, bệnh Alzheimer, Creutzfield - Jakob, u điểm mù  (bệnh xơ cũ Bourneville) xơ cứng rải rác, do phương thức di truyền phức tạp liên quan đến môi trường...

Triệu chứng học

Lâm sàng

Cơn cục bộ

Cơn động kinh cục bộ đơn thuần vận động (cơn Bravais - Jackson) do tổn thương thùy trán lên (vận động) giật khu trú nửa người, lan từ phần này đến phần khác gọi là hành trình Jackson tay - chân - mặt ; lưỡi - mặt - tay ; chân - mặt - tay. Mất ý thức thường xãy ra khi lan lên mặt. Vị trí khởi đầu có giá trị định khu tổn thương. Sau cơn có thể có liệt gọi là liệt Todd, nó sẽ thoái lui trong vài giờ.

Cơn cục bộ cảm giác ít gặp hơn có khi đi kèm cơn vận động.

Cơn động kinh thực vật (động kinh não trung gian). Có hoặc không có mất ý thức, đỏ bừng mặt và cổ, vã mồ hôi có khi chỉ nửa người, sởn gai ốc, tim đập chậm hoặc nhanh, đột ngột hạ huyết áp, nấc, ngáp, sốt, ớn lạnh, đau bụng...

Cơn cục bộ phức tạp (động kinh thái dương, cơn tâm thần -vận động) gồm các nhóm triệu chứng sau:

Các ảo giác: Ngửi mùi khó chịu, vị khó chịu, nhìn thấy cảnh như xa la û(trong giấc mộng), cảm giác chưa nhìn thấy, sợ, lo âu, cười ép buộc...

Ðộng tác tự động: Cơn nhai, liếm miệng, tặc lưỡi, nuốt liên tục, làm các động tác như lái xe, cởi khuy áo, quay đầu mắt từ từ, hát định hình, đi lang thang sau cơn kèm trạng thái mộng mị và có động tác tự động nên dễ gây nguy hiểm cho người khác bằng hành vi phạm pháp, gây án mạng, hiếp dâm, ăn cắp, ...

Cơn cục bộ toàn bộ hóa:

Bắt đầu cục bộ thường là vận động chuyển nhanh sang cơn lớn nếu không hỏi kỹ hay không quan sát kỹ thì khó phát hiện. Lúc này cần phải dựa vào điện não đồ (kịch phát một ổ sau toàn bộ hóa ở ütất cả các đạo trình) hoặc sau cơn để lại dấu khu trú .

Cơn toàn thể

Ðộng kinh cơn lớn: Trước khi xảy ra cơn có thể có nhức đầu, đầy hơi, rầu rĩ, lạnh lùng ít giờ hoặc ít ngày. Triệu chứng báo trước (50%) aura thường là bất thường cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, các ảo giác, rối loạn tâm thần nhưng chỉ kéo dài 1/10 giây. Cơn thật sự có 3 giai đoạn:

Giai đoạn co cứng: Ðột ngột ngã xuống bất tĩnh nên có thể gây thương tích, các chi duỗi cứng, các ngón tay gấp, đầu ưỡn ngửa quay sang một bên, hàm nghiến chặt có thể cắn vào lưỡi, hai mắt trợn ngược, tím vì không thể thở được do cơ ngực co cứng bất động, tiểu dầm hiếm hơn là đại tiện không tự chủ. Giai đoạn này kéo dài 10-20 giây.

Giai đoạn giật: Cơ thân và chi giật liên tiếp, ngắn, mạnh, có nhịp; hai mắt giật ngang hoặc giật lên. Có thể cắn phải lưỡi, sùi bọt mép. Giai đoạn này kéo dài  1- 2 phút, ít khi quá 6 phút.

Giai đoạn duỗi: Hôn mê, các cơ doãi ra, phản xạ gân xương giảm, có thể có Babinski, thở bù lại mạnh, nhanh, ồn ào, thở ngáy sau vài phút tỉnh lại, không nhớ những gì đã xảy ra. Giai đoạn này thường 5-10 phút.

Loại cơn này xuất hiện đầu tiên vào lứa tuổi 10-20 (80% các trường hợp), nếu  ít cơn thì đáp ứng tốt với điều trị.

Ðộng kinh cơ bé (cơn vắng ý thức): Gồm nhiều loại nhưng chung một số đặc điểm là thường gặp ở trẻ em, các cơn ngắn từ 1/10 - 10 giây, nhiều cơn trong ngày. Thường đột ngột mất ý thức hoàn toàn nên bất động, rơi chén đũa khi ăn, ngừng công việc, ... Có thể không hoặc mất trương lực, giật cứng cơ ... đó là cơn vắng phức tạp. Tuổi thường gặp 3-12 tuổi, tiến triển có 3 khả năng:

Hết cơn.

Tiếp tục duy trì cơn 6%.

Xuất hiện cơn co cứng giật cơ: 40% thường 6 năm sau cơn vắng ý thức. Nếu cơn vắng ý thức đầu tiên sau 7 tuổi thường đáp ứng kém với điều trị, dễ bị kích thích bởi ánh sáng, cũng thường cách ly với xã hội nên tiên lượng xấu.

Cơn co gấp trẻ em (hội chứng West): Hiếm, gặp ở trẻ 4-7 tháng tuổi có 3 dấu chính sau:        

Co cứng gấp cổ, chi, thân mình.

Rối loạn tính tình và tác phong.

Ðiện não đồ có loạn nhịp biên độ cao của các nhọn.

Loại này tiên lượng xấu vì gây đần độn.

Hội chứng Lennox - Gastaut: Trẻ từ 2 -6 tuổi với tam chứng vắng ý thức không điển hình, cơn cứng, mất trương lực. Suy sụp tâm thần - vận động.  Ðiện não đồ có nhọn - sóng chậm lan tỏa. Tiên lượng xấu.

Cơn bổ sung

Ðộng kinh liên tục: Cơn này tiếp cơn kia (nhiều cơn) nhưng giữa các cơn không rối loạn ý thức (cơn vắng ý thức, cơn lớn, Kojewnicow...).

Trạng thái động kinh: Các cơn liên tiếp nhau giữa các cơn bệnh nhân có rối loạn ý thức thường là hôn mê. Thông thường gặp trạng thái động kinh từ động kinh cơn lớn hoặc cơn động kinh cục bộ vận động toàn bộ hóa.

Cận lâm sàng

Ðiện não đồ

Giúp xác định động kinh, loại cơn, vị trí ở động kinh. Tuy nhiên điện não đồ bình thường không loại được động kinh, ngược lại 10-15% người bình thường có bất thường điện não không bao giờ lên cơn.

Gibbs và Lennox mô tả 3 loại cơn điển hình:

Ðộng kinh cơn bé: Sóng biên độ cao đỉnh tròn, tần số 3 chu kỳ giây đi kèm nhọn gọi là nhọn - sóng, đồng thời trên tất cả đạo trình.

Ðộng kinh cơn lớn: Trước cơn một vài giây xuất hiện rải rác sóng chậm biên độ thấp rồi chuyển nhanh thành các nhọn, gai biên độ cao, tần số nhanh trên tất cả các kênh tương ứng với giai đoạn co cứng cơ. Sau 10 - 30 giây các gai tạo thành gai - sóng chậm tương ứng giai đoạn co giật; sau đó tần số gai giảm lần và số lượng sóng chậm nhiều lên ban đầu sóng chậm 3 chu kì giây sau đó 1 chu kì giây tương ứng giai đoạn doãi cơ.

Ðộng kinh cục bộ phức tạp (động kinh thái dương, tâm thần - vận động). Biểu hiện bằng các sóng chậm, điện thế cao đỉnh vuông, tần số 2 -4 chu kỳ giây. Xen kẻ với sóng nhanh biên độ thấp (do cử động). Loại động kinh này ghi rõ khi ngủ. Ngoài cơn có nhọn 2 pha, 3 pha, sóng (, ( ở vùng thái dương với biên độ cao.

Có khi phải kích thích để bộc lộ cơn động kinh trên điện não bằng thở sâu, kích thích ánh sáng, tiếng động, ngủ tự nhiên, ...

Các xét nghiệm khác tìm nguyên nhân

Như chụp phim sọ, chụp động mạch não, glucose máu, điện giải đồ, dịch não tủy, chụp não cắt lớp vi tính, cộng hưỡng từ não....

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Dựa vào lâm sàng và điện não.

Chẩn đoán phân biệt 

Cơn hysterie

 Thường xảy ra trước đông người, cơn kéo dài, hai mí mắt nhắm nhưng nhấp nháy, không hôn mê, sắc mặt không thay đổi, không cắn phải lưỡi, không tiểu dầm, cơn giật hổn độn không thành nhịp. Khám thần  kinh bình thường. Một kích thích đột ngột mạnh làm hết cơn. Sau cơn nhớ những gì đã xảy ra. Ðiện não bình thường. Có thể có hysterie - động kinh.

Hạ glucose máu

Ðói bụng, cồn cào, toát mồ hội, co giật, hôn mê. Glucose máu hạ, tỉnh nhanh khi  tiêm glucose ưu trương tĩnh mạch.

Thiếu năng tuần hoàn não

Tai biến mạch máu não tạm thời, đột ngột, nói khó, rối loạn cảm giác, yếu nửa người, cơn kéo dài hơn động kinh, bệnh nhân thường tỉnh táo.

Cơn ngất

Trước cơn thường có chóng mặt,  hạ huyết áp.

Sốt cao co giật ở trẻ em

Là cơn co giật không phải bệnh động kinh, nhưng lặp lại là cơ thể bị động kinh về sau.

Diễn biến

Thay đổi tùy theo thể, nguyên nhân, tổn thương não bộ hay ảnh hưởng đến não bộ. Ðộng kinh ở trẻ 8-10 tuổi diễn biến tốt hơn ở người lớn vì ở người lớn thường có tổn thương thực thể ở não nên rối loạn tâm thần sớm hơn. Có 5 loại diễn biến sau:            

Tăng tính chất và cường độ cơn, vì vậy phải đếm số cơn.

Cơn từ ban ngày chuyển sang ban đêm thì nguy hiểm và nặng, vì khi lên cơn không ai biết.

Chuyển thể lâm sàng: Lúc đầu cơn nhỏ khi trưởng thành lại cơn lớn, cục bộ thành toàn bộ hóa là nặng hơn. Hoặc tăng nhịp điệu của cơn thành hai thể động kinh liên tục hoặc trạng thái động kinh, dẫn đến mê, phù não, rối loạn thần kinh thực vật.

Xuất hiện triệu chứng khu trú ngay sau cơn: Thấy dấu khu trú  điều này quan trọng để phát hiện động kinh cục bộ toàn bộ hóa. Nên ngay sau cơn phải khám thần kinh kỹ để phát hiện được tổn thương khu trú.

Có những thay đổi về tâm thần, sa sút trí tuệ.

Điều trị

Chế độ tiết thực, sinh hoạt, lao động

Không dùng các loại kích thích như cafe, thuốc lá, rượu, gia vị, không được ăn quá nhiều nhất là vào buổi tối. Một số tác giả đề nghị ăn nhiều mỡ, ít hydrat carbon và protein tạo ra tình trạng tăng ceton nên đở động kinh. Thức ngủ đúng giờ tùy theo nghề nghiệp của từng người để tránh mất định hình hoạt động thần kinh trong 24 giờ. Tránh các công việc có thể nguy hiểm cho bệnh nhân hoặc người khác như làm việc trên cao, dưới nước, gần lửa, lái xe, tránh làm việc lâu ngoài nắng vì dễ mất nước và điện giải, không làm việc nơi ánh sáng chói loè  như hàn hoặc không nên xem ti vi và chơi trò chơi điện tử lâu vì đó là các kích thích có thể gây lên cơn.

Ðiều trị bằng thuốc

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng động kinh

Phải chọn thuốc kháng động kinh và theo dõi đáp ứng điều trị, bắt đầu liều thấp rồi đến liều cao (liều cắt cơn) nhưng khi đến liều độc mà không cắt cơn hay cơn thưa thì phải thay thuốc trong trường hợp cấp cứu. Ðối với trẻ em sốt cao co giật thì cho uống 2 tháng để xóa  ổ phản xạ nhằm tránh tái phát có thể gây động kinh về sau. Ở người lớn sau khi điều trị khỏi nguyên nhân thì điều trị thêm 2 năm sau cơn cuối cùng và theo dõi điện não; còn nguyên nhân không giải quyết được như (sẹo) thì điều trị suốt đời.

Lượng thuốc chia nhiều lần uống trong ngày để có đủ đậm độ 24 giờ (nhưng cũng tùy dạng thuốc). Nay đã có các loại thuốc tác dụng kéo dài.

Không ngừng thuốc đột ngột, khi đổi thuốc phải từ từ giảm dần thuốc cũ, tăng dần thuốc mới.

Ðề phòng các biến chứng do thuốc.

Chỉ nên dùng một thứ thuốc, trừ cơn thuộc loại phối hợp thì dùng nhiều loại nên dễ gây độc và coi chừng tương tác thuốc bất lợi.

Nếu chỉ phát hiện cơn trên điện não mà không có cơn trên lâm sàng thì không cần thiết phải điều trị.

Khi cho thuốc phải theo dõi 10 ngày đầu xem dung nạp thuốc để tiếp tục hoặc cắt,  theo dõi một tháng để đánh giá kết quả.

Khi nào thì ngừng thuốc kháng động kinh. Nếu không còn cơn trong 2-3 năm thì nên giảm 25% liều trong mỗi tháng 3-6 tháng đến khi còn 25% thì mới ngưng thuốc. Nếu không có cơn lâm sàng mà điện não đồ bất thường cũng có thể ngừng thuốc.

Thuốc dễ tìm  và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình của bệnh nhân.

Các thuốc kháng động kinh

Với các trường hợp dùng chưa dùng thuốc tây thì nên điều trị bằng đông y bởi thuốc đông y điều trị đk không có tác dụng phụ, thời gian điều trị khỏi ngắn, bệnh nhân không lệ thuộc vào thuốc…với các trường hợp đã dùng thuốc tây mà có nhiều tác dụng phụ hoặc không đáp ứng thì nên chuyển sang thuốc đông y điều trị…các trường hợp đã và đang dùng thuốc tây mà không thấy xuất hiện cơn, không có tác dụng phụ thì nên tiếp tục sử dụng thuốc tây trừ các trường hợp phụ nữ muốn mang thai…

Để điều trị động kinh, bạn có thể liên hệ

 Lương y: Nguyễn Thị Ngọc Hà

địa chỉ số 11 ngõ 4 Trần Phú, tx. Từ Sơn

ĐT: 0914262018 hoặc 0989262018 để được tư vấn và khám chữa bệnh.

 




Lưu ý: Những Thông tin trên mang tính chất tham khảo, để việc điều trị bệnh của bạn có hiệu quả cao nhất bạn nên tham khảo ý kiến của Bác Sĩ trước khi áp dụng!
Bài thuốc dân gian khác

Thuốc nam chữa run tay, run chân, động kinh, parkinson

Mặc dù gia đình đã có nhiều bài thuốc chữa động kinh hiệu quả, nhưng theo thời gian xuất hiện rất nhiều loại động kinh mới, nhiều dạng phức tạp mà những loại thuốc cũ không đáp ứng…sau nhiều lần thử nghiệm đến nay bài thuốc động kinh mới chính thức được đưa vào sử dụng… THUỐC ĐỘNG KINH (DK16) Đặc trị các bệnh: Động kinh, rối loạn chức năng thần kinh, tâm thần phân liệt, mất trí nhớ, rối loạn thần kinh, bệnh Parkinson, chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu, trẻ con kinh giật, khóc đêm, hay quên, ù tai, có đờm.. Ngoài tác dụng chính trên, thuốc còn có tác dụng chữa bệnh phong điên giản có đờm vít tắc, hôn mê, hay quên, mộng nhiều, viêm phế quản, tai điếc, đi lỵ đau bụng, thanh nhiệt (hạ sốt), lợi niệu, giải độc. chữa đau răng, đau bụng, cảm mạo, bệnh gan, cao huyết áp, tiểu đường, nhiễm trùng đường tiểu uống chữa viêm loét dạ dày, tá tràng, sỏi thận và sỏi bàng quang. Cách dùng: Ngày 3 lần trước ăn, mỗi lần 20ml Kiêng: Đỗ xanh, rau muống, cá mè, đồ uống có ga, chất kích thích Thịt trâu, thịt chó, thịt mèo, chuối tiêu suốt đời. Chú ý: Các trường hợp âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi, không nên dùng.

Đăng bởi: admin

Thuốc từ cây tre

CÁC VỊ THUỐC TỪ CÂY TRE Trong mỗi làng quê ở Việt Nam, đâu đâu cũng bắt gặp hình ảnh quen thuộc của lũy tre làng. Trong cuộc sống thường nhật, tre còn góp phần vào việc tạo dựng nên biết bao nhiêu là dụng cụ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của nhân dân ta. Ngoài ra, tre còn là cây cho nhiều vị thuốc quý, có thể chữa được nhiều loại bệnh khác nhau. Cây tre Sương mai từ búp lá tre Những trẻ em mới lớn hoặc ở tuổi vị thành niên, thường hay xuất hiện một loại bệnh do nấm gây ra, đặc biệt là ở vùng mặt, vùng cổ... gọi là "bạch biến" tên thường gọi là "lang ben". Lang ben thể hiện bởi các nốt chấm trắng nhỏ ngoài da, ban đầu chỉ bằng hạt kê, sau lan ra, và có thể to bằng hạt đậu xanh. Lúc đầu chỉ một số nốt, sau ít ngày lan nhanh ra toàn vùng mặt, cổ... khiến cho khuôn mặt trở nên lốm đốm trắng. Đồng thời tạo cảm giác ngứa ngáy khó chịu, nhất là khi ra nắng và khi ra mồ hôi. Có thể dùng sương mai (sương ban sáng) đọng trên các búp lá tre, xoa nhẹ trên các vùng bị bạch biến. Mỗi buổi sáng một lần. Làm nhiều lần trong tuần, sẽ nhanh chóng cho kết quả. Lá tre (tươi) hay còn gọi là trúc diệp (cần phân biệt với vị thuốc đạm trúc diệp, là rễ của cây đạm trúc diệp) có tác dụng thanh nhiệt giáng hỏa. Khi cảm, cúm, sốt cao ra nhiều mồ hôi, ho, suyễn, thổ huyết. Có thể phối hợp với lá tía tô, bạc hà, kinh giới, mỗi vị 16 - 20g, sắc uống, ngày một thang. Để chữa viêm phế quản cấp tính, lá tre 12g, thạch cao, tang bạch bì, sa sâm, mạch môn, thiên môn, hoài sơn, mỗi vị 12g; lá hẹ 8g, sắc uống, ngày một thang. Ngoài ra có thể dùng lá tre cùng với một số lá có tinh dầu, cho mùi thơm, như lá sả, lá hương nhu, bạc hà, khuynh diệp... làm thuốc xông hơi khi bị cảm mạo. Búp tre (phần ngọn của cành tre non) trị tiểu tiện buốt dắt: Dùng búp lá tre và rau má tươi, mỗi vị 20g, giã nát, thêm chút muối ăn, thêm nước lọc, quấy đều, gạn lấy một bát uống, ngày một lần, uống liền một tuần lễ. Chữa lỵ mạn tính: búp tre 4g, chè tươi 10g, hạt cau già 2g, sắc uống ngày một thang. Uống liền 1 - 2 tuần lễ. Măng tre giã nát, vắt lấy nước, thêm nước gừng, uống, trị sốt cao khi cảm mạo hoặc viêm họng. Có thể dùng nước măng tre chua trị say nắng bằng cách đem đun sôi, khoảng 300ml, rồi cho thêm 20g muối ăn, hành tươi, tỏi tươi, gừng tươi, mỗi vị 10g, sau khi giã nát. Cuối cùng đập một quả trứng gà vào và quấy chín, uống lúc còn nóng. Trúc nhự (phần thân cây tre tươi, sau khi cạo bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài và lớp ruột bên trong). Dùng trúc nhự trị cảm sốt, tâm phiền, bứt rứt, nôn nao... Khi có thai, buồn nôn, dùng trúc nhự 12g, sinh khương 4g, sắc uống. Chữa trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác: trúc nhự 8g, cam thảo dây 12g, bán hạ (chế), trần bì, ô dược, đởm nam tinh, chỉ thực, hương phụ, mỗi vị 8g sắc uống, ngày một thang. Uống liền 3 tuần. Sau nhắc lại. Thiên trúc hoàng (những cục mầu trắng hoặc mầu vàng do dịch phân tiết ra trong gióng cây tre già, cây nứa), có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng trừ đờm, bình suyễn, dùng trong chứng phế nhiệt, nhiều đờm suyễn tức. Khi dùng có thể phối hợp với vị bạch cương tằm, hoàng liên, thanh đại, xạ hương điều trị chứng đờm tắc, suyễn tức ở trẻ em. Khi trẻ em bị sốt cao, mê sảng, kinh phong co giật: thiên trúc hoàng 4g, đởm nam tinh 16g, chu sa 2g, xạ hương 0,4g, dưới dạng thuốc hoàn, mỗi lần uống 2 - 4g. Mo nang tre (những mảnh vỏ già, khô bọc ngoài cây tre non), sau khi sao tồn tính, tán thành bột mịn, rắc vào các mụn nhọt, lở loét lâu liền miệng, hoặc có thể dùng làm thuốc cầm máu, trong các trường hợp rong kinh, băng huyết, chảy máu cam..., phối hợp với cỏ nhọ nồi, lá sen, bẹ móc (tông lư) ngải diệp, trắc bách diệp, đều sao tồn tính, mỗi vị 8 - 10g, dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang. GS.TS. Phạm Xuân Sinh - Theo SK & ĐS

Đăng bởi: admin

Rối loại thần kinh thực vật

THEO TÂY Y Hệ thần kinh thực vật là hệ thần kinh tự động. Nó có tác dụng điều khiển hoạt động của các cơ quan trong cơ thể một cách chủ động, không phụ thuộc vào sự chỉ huy của não bộ. chức năng của hệ thần kinh thực vật là điều hoà các quá trình chuyển hoá vật chất, điều hoà hoạt động của cơ quan nội tạng cũng như hệ thần kinh trung ương. Trong điều hoà chức năng của các cơ quan thường có sự tham gia của cả hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của 2 hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Hai hệ thống này về cơ bản gần như trái ngược nhau: Tác động của hệ thần kinh giao cảm rất đa dạng trên hệ tim mạch (làm co mạch, tăng huyết áp mạch nhanh kích thích tiết mồ hôi); trên hệ hô hấp (làm nhịp thở nhanh, nông). Vì vậy khi cường chức năng giao cảm sẽ gây hồi hộp, trống ngực mạnh, tăng huyết áp, vã mồ hôi, giảm co bóp và tiết dịch đối với một số cơ quan tiêu hóa như dạ dày, túi mật, ruột, dịch vị dạ dày…; co thắt cơ trơn phế quản… bốc nóng ở mặt, vã mồ hôi ở lòng bàn chân, bàn tay; nặng hơn có thể tức ngực, khó thở… tim hồi hộp thở gấp, luôn luôn ra mồ hôi. mồ hôi ra đầm đìa, sợ gió, môi tím tái, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh ngắt. Tác dụng của hệ phó giao cảm thì ngược lại, khi cường chức năng phó giao cảm sẽ làm chậm nhịp tim, tăng co thắt và tăng tiết dịch vị… Ví dụ: giao cảm làm giãn đồng tử thì phó giao cảm làm co, giao cảm làm giãn mạch vành (beta 2) và co (alpha) thì phó giao cảm làm giãn, giao cảm làm tăng nhịp tim thì phó giao cảm làm giảm nhịp tim, giao cảm làm giảm nhu động và trương lực lòng ruột thì phó giao cảm làm tăng nhu động và trương lực… Tác dụng của hệ thần kinh thực vật đối với nội tạng Cơ quan Tác dụng của giao cảm Tác dụng của phó giao cảm Đồng tử Giãn Co Tuyến nước bọt Đặc Loãng Tuyến mồ hôi Gây tiết - Tuyến lệ Gây tiết - Tuyến dạ dày Giảm tiết Tăng tiết Tuyến Tụy - Gây tiết dịch tụy và insulin Mạch máu ở da Gây co mạch - Tim Tăng nhịp và lực co Giảm nhịp và lực co Cơ trơn dạ dày, ruột, bàng quang Giảm co bóp và trương lực Tăng co bóp và trương lực Cơ vòng bàng quang Gây co Gây giãn Cơ trơn phế quản Gây giãn Gây co Bình thường có sự cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm hoặc phó giao cảm duy trì các chức năng bình thường của cơ thể. ở một cơ thể khỏe mạnh, hoạt động của hệ thần kinh thực vật điều hòa và cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm và hệ thống phó giao cảm. Khi một trong hai hệ thống bị rối loạn sẽ đưa đến hội chứng rối loạn thần kinh thực vật. Mặc dù có các trung tâm điều hoà hoạt động của thần kinh thực vật nhưng trong trường hợp mất cân bằng thì không điều hoà được hệ thống này và đưa đến các triệu chứng của rối loạn. Thường gặp triệu chứng ở hệ tim mạch và bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn thần kinh tim. Thường bệnh nhân có nhịp tim nhanh, thậm chí co thắt cả mạch vành làm cho bệnh nhân đau ngực, nhịp tim nhanh làm cho bệnh nhân cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, đôi khi cảm giác hẫng người. Đặc biệt, các cơn rối loạn này không có quy luật gì cả và cơn có thể kết thúc đột ngột làm cho người ngoài tưởng rằng bệnh nhân giả bộ. Đối với rối loạn thần kinh thực vật mà phó giao cảm chiếm ưu thế thì người bệnh bị co thắt phế quản làm khó thở. Nhiều người cảm thấy triệu chứng xảy ra bất thường quá giống như giả bộ nên có thái độ trầm cảm và nghĩ rằng mình bị rối loạn tâm thần nên đến chuyên khoa tâm thần. Bệnh nhân có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt, rụng tóc, da khô, hư móng, giảm hứng thú tình dục, mất ngủ… Bệnh nhân khi bị hội chứng này thường xuất hiện những triệu chứng cơ năng rất mơ hồ như: thường xuyên chóng mặt, mệt mỏi, tim hồi hộp, lo sợ có thể có khó ngủ nữa. Việc chẩn đoán hội chứng này vừa dễ mà cũng vừa khó vì bệnh nhân không hề có một tổn thương thực thể nào. Các xét nghiệm đều trong giới hạn bình thường, có thể lầm lẫn với các triệu chứng của tình trạng trầm cảm, và có khi do chính thầy thuốc áp đặt một khi không tìm ra một chẩn đoán nào hợp lý cho bệnh nhân. Việc điều trị cũng rất khó khăn và kéo dài. Tuy bệnh không gây tử vong nhưng nó làm giảm đi rất nhiều chất lượng cuộc sống, chỉ gây ra khó chịu cho người bệnh và kéo dài làm thay đổi tâm lý. Do tính chất không nguy hiểm nên người bệnh thường không được quan tâm đúng mức, bị từ chối điều trị và càng làm cho bệnh nhân lo lắng. Để điều trị, bệnh nhân được dùng các thuốc điều trị triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân. Hiện đối với thể bệnh bị trầm cảm người ta dùng thuốc chống trầm cảm, đối với rối loạn nhịp tim nhanh thì dùng thuốc kiểm soát nhịp tim và nói chung là điều trị triệu chứng. Bệnh nhân sau một thời gian bị bệnh thường rơi vào tình trạng trầm uất, lo lắng không tin vào cuộc sống và không tin vào y học. Rối loạn thần kinh thực vật điều trị hiệu quả tại Phòng khám Hoàn xuân đường Rối loạn thần kinh thực vật điều trị hiệu quả tại Phòng khám Hoàn xuân đường THEO ĐÔNG Y Hệ thần kinh thực vật là một bộ phận của hệ thần kinh trung ương. Gọi là thần kinh thực vật vì nó điều hoà các chức năng của cơ thể động vật giống như ở thực vật tức không theo ý muốn chủ quan của cơ thể. Thần kinh thực vật tham gia điều chỉnh các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết, chuyển hoá… cho nên trong đông y ngoài thuật ngữ chẩn đoán bệnhrối loạn thần kinh thực vật còn có những thuật ngữ khác: rối loạn thần kinh tim, rối loạn thần kinh giao cảm, rối loạn phó giao cảm, suy nhược thần kinh … Chứng Rối loạn thần kinh thực vật trong đông y còn gọi là rối loạn chức năng là do hoạt động thần kinh cao cấp quá mức căng thẳng, kích thích ngoài ý muốn, hoặc sau khi bị bệnh nặng, bệnh lâu dài, thể chất hư nhược, đến nỗi công năng tạng phụ, âm dương, khí huyết đều mất điều hòa mà dẫn đến rối loạn công năng. Đông y thường thì dựa vào triệu chứng bệnh, tìm ra gốc bệnh, rồi từ đó đề ra phương pháp chữa và bài thuốc phù hợp. CHẨN ĐOÁN 1. Thường có kích thích tinh thần hoặc tinh thần căng thẳng thời gian dài, lo nghĩ, hoạt động thần kinh khẩn trương quá độ là nhân tố gợi phát. 2. Bệnh này triệu chứng biểu hiện không như nhau, có người cảm thấy tim đập nhanh, cảm thấy như tim ngừng đập, có thể kèm theo mệt mỏi, hồi hộp, tim thổn thức, tinh thần bất an, sợ hãi, chóng mặt, có thể có đau đầu, tai ù, mắt hoa buồn nôn, nôn, thậm chí ngất, di tinh, liệt dương, cho tới một số chứng trạng không hạn chế cụ thể. Trên thực tế lâm sàng chữa bệnh này thì tôi thường gặp các thể, các dạng bệnh như sau: Phân loại Thể bệnh: Tùy mức độ bệnh mà có thể có các biểu hiện ít nhiều I. ÂM HƯ HỎA VƯỢNG Hay gặp ở người cao huyết áp, rối loạn tiền mãn kinh: hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, có thể có ù tai, Tim thổn thức, hồi hộp tay chân buồn bã, trong ngực nóng bứt rứt, người hay bừng nóng, mặt đỏ, hai gò má có thể đỏ, mệt nhiều về buổi chiều, lòng bàn tay chân nóng, đái nước tiểu vàng. miệng khô, họng khô, có thể táo bón, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, có thể có cảm giác vướng trong họng, khạc không ra nuốt không vào. ( có thể có viêm mũi mãn). Có thể có cơn đau vùng ngực từng lúc, cơn đau đầu, váng đầu, bứt rứt, dễ cáu gắt… ( Tùy mức độ bệnh mà có thể có các triệu chứng trên) Phân tích: Do thận suy yếu (chức năng thận), Tâm hỏa vượng nên hồi hộp, buồn bực, ít ngủ, có thể mỏi lưng. Bệnh nhiệt lâu ngày làm tổn thương chân âm, nên âm hư hỏa vượng quấy nhiễu Tâm thần sinh ra hồi hộp mất ngủ, Tâm hỏa bốc lên nên ù tai, choáng đầu, hoa mắt, miệng khô, lưỡi đỏ, trong người nóng bức bối. ( Giải thích đơn giản cho dễ hiểu: Thận chủ thủy: nước, Tâm là hỏa: lửa. Thận yếu -> nước không giập được lửa -> lửa bùng lên gây các triệu chứng trên) II. TÂM THẬN CÙNG HƯ + Tâm dương bất túc: gồm Tâm khí hư và Tâm dương hư. Biểu hiện chung: hồi hộp, đoạn khí, hụt hơi ( khi hoạt động nặng thêm như leo cầu thang, làm việc gắng sức, chạy bộ …), tức thở, tự ra mồ hôi, mồ hôi ra nhiều, mệt mỏi, hay thở dài, sắc mặt trắng bợt, mình hàn, tay chân lạnh, sợ lạnh, sợ gió, ngại tắm, khó chịu vùng tim, đau tim + Kèm thận hư: Đầu xoay tai ù, di tinh, buốt thắt lưng, phiền thao mất ngủ, nhiều mộng hay quên, có thể có họng khô, nước tiểu vàng, không mộng mà di tinh, Hoặc: hoạt tinh, dương suy xuất tinh sớm, sợ lạnh. hồi hộp hay thổn thức, chân tay lạnh, tiểu nhiều, nước tiểu trong, lạnh và sợ gió, ngại tắm, ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch …. Phân tích: Do dương khí suy yếu, tâm khí không đủ sức thôi động huyết mạch, thủy khí dâng lên gây hồi hộp, khó thở, tim đập nhanh. Phế khí hư yếu nên ra mồ hôi, sợ gió, sợ lạnh. Tâm dương hư nên thấy hiện tượng Hàn: nên người và chân tay lạnh. Bệnh có thể dẫn đến dương khí đại hư sẽ thấy nhiều mồ hôi, tứ chi lạnh, hồi hộp, ảnh hưởng tới thần chí, có thể đưa đến bất tỉnh. Giải thích đơn giản cho dễ hiểu: Bì mao ( da, chân lông) là phần ngoài cùng của cơ thể, có tác dụng bảo vệ cơ thể chống ngoại tà (gió, lạnh) xâm nhập. Mà Phế chủ bì mao nên khi phế khí kém sẽ dẫn đến thở ngắn, thở gấp, người mệt vô lực, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, có lúc sợ lạnh, gai rét, dễ bị Cảm mạo. Phế -> Tâm.

Đăng bởi: admin

Rối loại tiền đình

Đây là bệnh chứng thường gặp ở những người từ lứa tuổi trung niên hay người già. Bệnh xảy ra thường không có dấu hiệu báo trước. Dấu hiệu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm sau khi tỉnh dậy, người bệnh đột ngột choáng váng mọi vật chao đảo, kèm theo rối loạn thần kinh thực vật làm cho toàn thân vã mồ hôi hoặc có thể da mặt bị tím tái, tim đập nhanh, buồn nôn hay nôn mửa liên tục… Theo Đông y thường thấy biểu hiện bởi hai thể loại đó là “thực chứng” và “hư chứng”. Đối với thực chứng Đột nhiên ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, nhà cửa cảm thấy như đảo lộn, nghiêng ngửa buộc người bệnh phải luôn nhắm nghiền mắt và nằm xuống không sẽ bị ngã. Đây là trường hợp theo Đông y là do can hỏa hóa phong rồi bốc lên mà sinh bệnh là chủ yếu. Cũng có thể do đờm thấp đình trệ, mà làm khí thanh dương không đưa lên được khiến phát ra bệnh.Trong trường hợp thực chứng này người ta sử dụng phương “Thiên ma câu đằng ẩm” trích trong Tạp bệnh chứng trị tân nghĩa. Phương gồm các vị: Câu đằng 12g, ích mẫu 12g, ngưu tất 12g, phục thần 12g, sơn chi 12g, tang ký sinh 12g, dạ giao đằng 10g, đỗ trọng 10g, hoàng cầm 10g, thạch quyết minh sống 20g, thiên ma 8g, hà thủ ô trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần trong ngày. Uống 3 – 5 thang liền. Phương “Nhị căn thang” (Phúc kiến Trung y dược). Tác dụng hoạt huyết hóa ứ, lợi thấp, khử đờm, trị rối loạn tiền đình, gồm: Cát căn 20g, hải đới căn 30g, xuyên khung 12g, bán hạ 10g, thạch xương bồ 16g, đại giả thạch 16g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 3 – 6 thang liền. Đối với hư chứng Triệu chứng cũng xảy ra đột ngột bị ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, cơn chóng mặt cũng có thể xảy ra trong chốc lát hay mấy tiếng đồng hồ hoặc vài ngày. Đây là bệnh chứng xảy ra chủ yếu do can, thận, tâm, tỳ suy, thận kém nên không nuôi dưỡng được can huyết mà làm cho can dương vượng lên khiến phát sinh bệnh. Với bệnh chứng này người ta thường sử dụng phương “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” trích trong Y cấp. Gồm các vị: Bạch cúc hoa 120g, câu kỷ tử 120g, đơn bì 120g, phục linh 120g, trạch tả 120g, sơn dược 160g, sơn thù 160g, thục địa 320g. Tất cả tán bột làm hoàn. Ngày uống 8 – 16g, chiêu với nước muối nhạt. Định huyễn thang (trích trong Trung Quốc Trung y bí phương đại hoàn). Tác dụng hóa đờm tức phong, kiện tỳ khử thấp, trị rối loạn tiền đình, gồm: Bạch tật lê 20g, trạch tả 20g, thiên ma 16g, bán hạ 16g, đạm trúc diệp 12g, phục thần 12g, cát nhân 12g, long cốt 30g (sắc trước). Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 5 – 10 thang liền. Rất hiệu nghiệm. Chỉ huyễn trừ vựng thang (trong Trung Quốc Trung y bí phương đại toàn). Tác dụng hóa đờm, lợi thấp, khử ứ, trị rối loạn tiền đình, gồm bán hạ 12g, ngưu tất 12g, sinh khương 12g, xa tiền tử 30g, trạch lan 16g, quế chi 16g, bạch truật 20g, hổ phách 6g, đan sâm 24g, phục linh 24g, mẫu lệ 40g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 5 – 7 thang liền sẽ hiệu nghiệm. (Sức khoẻ và Đời sống)

Đăng bởi: admin

Quay trở về    Đầu trang