Tư vấn miễn phí:
0914 262 018

Website được lập ra nhằm tổng hợp tất cả những bài thuốc hay từ Dân Gian để mọi người tham khảo và có thêm sự lựa chọn cho mình!


MIỄN PHÍ VÀ MÃI LUÔN NHƯ THẾ!

-----------o0o----------

Bài thuốc dân gian

Thuốc chữa bệnh động kinh

ĐÔNG Y GIA TRUYỀN SỐ 11 NGÕ 4 TRẦN PHÚ, TỪ SƠN, BẮC NINH

LƯƠNG Y: NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

ĐT: 0914262018, 0994300138

 

 

THUỐC ĐỘNG KINH (DK17)

Đặc trị các bệnh: Trị động kinh do chấn thương, Trị kinh phong cấp, mạn tính,  Trị sốt cao phát cuồng, động kinh co giật, hen phế quản, di chứng bại liệt nửa người, Trị đầu đau do phong nhiệt, trị lưỡi sưng cứng, trị sốt rét bứt rứt, phiền loạn, trẻ con kinh phong mạn tính, tâm thần buồn bực, phiền não, hoảng sợ, gân mạch co quắp, trị tâm thần phân liệt….

Thuốc trên còn có tác dụng với bệnh nhân huyết áp cao, bệnh nhân máu trắng, viêm tinh hoàn..

Cách dùng: Ngày 3 lần trước ăn, mỗi lần 8g.

Kiêng: Đỗ xanh, rau muống, cá mè, hành, đồ uống có ga, chất kích thích trong thời gian dùng thuốc

 Thịt trâu, thịt chó, thịt mèo, thịt ếch, chuối tiêu suốt đời.
Chú ý: Các trường hợp âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi, không nên dùng.

 

Lưu ý: Những Thông tin trên mang tính chất tham khảo, để việc điều trị bệnh của bạn có hiệu quả cao nhất bạn nên tham khảo ý kiến của Bác Sĩ trước khi áp dụng!
Bài thuốc dân gian khác

Thuốc nam chữa run tay, run chân, động kinh, parkinson

Mặc dù gia đình đã có nhiều bài thuốc chữa động kinh hiệu quả, nhưng theo thời gian xuất hiện rất nhiều loại động kinh mới, nhiều dạng phức tạp mà những loại thuốc cũ không đáp ứng…sau nhiều lần thử nghiệm đến nay bài thuốc động kinh mới chính thức được đưa vào sử dụng… THUỐC ĐỘNG KINH (DK16) Đặc trị các bệnh: Động kinh, rối loạn chức năng thần kinh, tâm thần phân liệt, mất trí nhớ, rối loạn thần kinh, bệnh Parkinson, chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu, trẻ con kinh giật, khóc đêm, hay quên, ù tai, có đờm.. Ngoài tác dụng chính trên, thuốc còn có tác dụng chữa bệnh phong điên giản có đờm vít tắc, hôn mê, hay quên, mộng nhiều, viêm phế quản, tai điếc, đi lỵ đau bụng, thanh nhiệt (hạ sốt), lợi niệu, giải độc. chữa đau răng, đau bụng, cảm mạo, bệnh gan, cao huyết áp, tiểu đường, nhiễm trùng đường tiểu uống chữa viêm loét dạ dày, tá tràng, sỏi thận và sỏi bàng quang. Cách dùng: Ngày 3 lần trước ăn, mỗi lần 20ml Kiêng: Đỗ xanh, rau muống, cá mè, đồ uống có ga, chất kích thích Thịt trâu, thịt chó, thịt mèo, chuối tiêu suốt đời. Chú ý: Các trường hợp âm hư, hoạt tinh, ra nhiều mồ hôi, không nên dùng.

Đăng bởi: admin

Thuốc từ cây tre

CÁC VỊ THUỐC TỪ CÂY TRE Trong mỗi làng quê ở Việt Nam, đâu đâu cũng bắt gặp hình ảnh quen thuộc của lũy tre làng. Trong cuộc sống thường nhật, tre còn góp phần vào việc tạo dựng nên biết bao nhiêu là dụng cụ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của nhân dân ta. Ngoài ra, tre còn là cây cho nhiều vị thuốc quý, có thể chữa được nhiều loại bệnh khác nhau. Cây tre Sương mai từ búp lá tre Những trẻ em mới lớn hoặc ở tuổi vị thành niên, thường hay xuất hiện một loại bệnh do nấm gây ra, đặc biệt là ở vùng mặt, vùng cổ... gọi là "bạch biến" tên thường gọi là "lang ben". Lang ben thể hiện bởi các nốt chấm trắng nhỏ ngoài da, ban đầu chỉ bằng hạt kê, sau lan ra, và có thể to bằng hạt đậu xanh. Lúc đầu chỉ một số nốt, sau ít ngày lan nhanh ra toàn vùng mặt, cổ... khiến cho khuôn mặt trở nên lốm đốm trắng. Đồng thời tạo cảm giác ngứa ngáy khó chịu, nhất là khi ra nắng và khi ra mồ hôi. Có thể dùng sương mai (sương ban sáng) đọng trên các búp lá tre, xoa nhẹ trên các vùng bị bạch biến. Mỗi buổi sáng một lần. Làm nhiều lần trong tuần, sẽ nhanh chóng cho kết quả. Lá tre (tươi) hay còn gọi là trúc diệp (cần phân biệt với vị thuốc đạm trúc diệp, là rễ của cây đạm trúc diệp) có tác dụng thanh nhiệt giáng hỏa. Khi cảm, cúm, sốt cao ra nhiều mồ hôi, ho, suyễn, thổ huyết. Có thể phối hợp với lá tía tô, bạc hà, kinh giới, mỗi vị 16 - 20g, sắc uống, ngày một thang. Để chữa viêm phế quản cấp tính, lá tre 12g, thạch cao, tang bạch bì, sa sâm, mạch môn, thiên môn, hoài sơn, mỗi vị 12g; lá hẹ 8g, sắc uống, ngày một thang. Ngoài ra có thể dùng lá tre cùng với một số lá có tinh dầu, cho mùi thơm, như lá sả, lá hương nhu, bạc hà, khuynh diệp... làm thuốc xông hơi khi bị cảm mạo. Búp tre (phần ngọn của cành tre non) trị tiểu tiện buốt dắt: Dùng búp lá tre và rau má tươi, mỗi vị 20g, giã nát, thêm chút muối ăn, thêm nước lọc, quấy đều, gạn lấy một bát uống, ngày một lần, uống liền một tuần lễ. Chữa lỵ mạn tính: búp tre 4g, chè tươi 10g, hạt cau già 2g, sắc uống ngày một thang. Uống liền 1 - 2 tuần lễ. Măng tre giã nát, vắt lấy nước, thêm nước gừng, uống, trị sốt cao khi cảm mạo hoặc viêm họng. Có thể dùng nước măng tre chua trị say nắng bằng cách đem đun sôi, khoảng 300ml, rồi cho thêm 20g muối ăn, hành tươi, tỏi tươi, gừng tươi, mỗi vị 10g, sau khi giã nát. Cuối cùng đập một quả trứng gà vào và quấy chín, uống lúc còn nóng. Trúc nhự (phần thân cây tre tươi, sau khi cạo bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài và lớp ruột bên trong). Dùng trúc nhự trị cảm sốt, tâm phiền, bứt rứt, nôn nao... Khi có thai, buồn nôn, dùng trúc nhự 12g, sinh khương 4g, sắc uống. Chữa trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác: trúc nhự 8g, cam thảo dây 12g, bán hạ (chế), trần bì, ô dược, đởm nam tinh, chỉ thực, hương phụ, mỗi vị 8g sắc uống, ngày một thang. Uống liền 3 tuần. Sau nhắc lại. Thiên trúc hoàng (những cục mầu trắng hoặc mầu vàng do dịch phân tiết ra trong gióng cây tre già, cây nứa), có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng trừ đờm, bình suyễn, dùng trong chứng phế nhiệt, nhiều đờm suyễn tức. Khi dùng có thể phối hợp với vị bạch cương tằm, hoàng liên, thanh đại, xạ hương điều trị chứng đờm tắc, suyễn tức ở trẻ em. Khi trẻ em bị sốt cao, mê sảng, kinh phong co giật: thiên trúc hoàng 4g, đởm nam tinh 16g, chu sa 2g, xạ hương 0,4g, dưới dạng thuốc hoàn, mỗi lần uống 2 - 4g. Mo nang tre (những mảnh vỏ già, khô bọc ngoài cây tre non), sau khi sao tồn tính, tán thành bột mịn, rắc vào các mụn nhọt, lở loét lâu liền miệng, hoặc có thể dùng làm thuốc cầm máu, trong các trường hợp rong kinh, băng huyết, chảy máu cam..., phối hợp với cỏ nhọ nồi, lá sen, bẹ móc (tông lư) ngải diệp, trắc bách diệp, đều sao tồn tính, mỗi vị 8 - 10g, dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang. GS.TS. Phạm Xuân Sinh - Theo SK & ĐS

Đăng bởi: admin

Rối loại thần kinh thực vật

THEO TÂY Y Hệ thần kinh thực vật là hệ thần kinh tự động. Nó có tác dụng điều khiển hoạt động của các cơ quan trong cơ thể một cách chủ động, không phụ thuộc vào sự chỉ huy của não bộ. chức năng của hệ thần kinh thực vật là điều hoà các quá trình chuyển hoá vật chất, điều hoà hoạt động của cơ quan nội tạng cũng như hệ thần kinh trung ương. Trong điều hoà chức năng của các cơ quan thường có sự tham gia của cả hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của 2 hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Hai hệ thống này về cơ bản gần như trái ngược nhau: Tác động của hệ thần kinh giao cảm rất đa dạng trên hệ tim mạch (làm co mạch, tăng huyết áp mạch nhanh kích thích tiết mồ hôi); trên hệ hô hấp (làm nhịp thở nhanh, nông). Vì vậy khi cường chức năng giao cảm sẽ gây hồi hộp, trống ngực mạnh, tăng huyết áp, vã mồ hôi, giảm co bóp và tiết dịch đối với một số cơ quan tiêu hóa như dạ dày, túi mật, ruột, dịch vị dạ dày…; co thắt cơ trơn phế quản… bốc nóng ở mặt, vã mồ hôi ở lòng bàn chân, bàn tay; nặng hơn có thể tức ngực, khó thở… tim hồi hộp thở gấp, luôn luôn ra mồ hôi. mồ hôi ra đầm đìa, sợ gió, môi tím tái, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh ngắt. Tác dụng của hệ phó giao cảm thì ngược lại, khi cường chức năng phó giao cảm sẽ làm chậm nhịp tim, tăng co thắt và tăng tiết dịch vị… Ví dụ: giao cảm làm giãn đồng tử thì phó giao cảm làm co, giao cảm làm giãn mạch vành (beta 2) và co (alpha) thì phó giao cảm làm giãn, giao cảm làm tăng nhịp tim thì phó giao cảm làm giảm nhịp tim, giao cảm làm giảm nhu động và trương lực lòng ruột thì phó giao cảm làm tăng nhu động và trương lực… Tác dụng của hệ thần kinh thực vật đối với nội tạng Cơ quan Tác dụng của giao cảm Tác dụng của phó giao cảm Đồng tử Giãn Co Tuyến nước bọt Đặc Loãng Tuyến mồ hôi Gây tiết - Tuyến lệ Gây tiết - Tuyến dạ dày Giảm tiết Tăng tiết Tuyến Tụy - Gây tiết dịch tụy và insulin Mạch máu ở da Gây co mạch - Tim Tăng nhịp và lực co Giảm nhịp và lực co Cơ trơn dạ dày, ruột, bàng quang Giảm co bóp và trương lực Tăng co bóp và trương lực Cơ vòng bàng quang Gây co Gây giãn Cơ trơn phế quản Gây giãn Gây co Bình thường có sự cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm hoặc phó giao cảm duy trì các chức năng bình thường của cơ thể. ở một cơ thể khỏe mạnh, hoạt động của hệ thần kinh thực vật điều hòa và cân bằng giữa hai hệ thống giao cảm và hệ thống phó giao cảm. Khi một trong hai hệ thống bị rối loạn sẽ đưa đến hội chứng rối loạn thần kinh thực vật. Mặc dù có các trung tâm điều hoà hoạt động của thần kinh thực vật nhưng trong trường hợp mất cân bằng thì không điều hoà được hệ thống này và đưa đến các triệu chứng của rối loạn. Thường gặp triệu chứng ở hệ tim mạch và bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn thần kinh tim. Thường bệnh nhân có nhịp tim nhanh, thậm chí co thắt cả mạch vành làm cho bệnh nhân đau ngực, nhịp tim nhanh làm cho bệnh nhân cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, đôi khi cảm giác hẫng người. Đặc biệt, các cơn rối loạn này không có quy luật gì cả và cơn có thể kết thúc đột ngột làm cho người ngoài tưởng rằng bệnh nhân giả bộ. Đối với rối loạn thần kinh thực vật mà phó giao cảm chiếm ưu thế thì người bệnh bị co thắt phế quản làm khó thở. Nhiều người cảm thấy triệu chứng xảy ra bất thường quá giống như giả bộ nên có thái độ trầm cảm và nghĩ rằng mình bị rối loạn tâm thần nên đến chuyên khoa tâm thần. Bệnh nhân có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt, rụng tóc, da khô, hư móng, giảm hứng thú tình dục, mất ngủ… Bệnh nhân khi bị hội chứng này thường xuất hiện những triệu chứng cơ năng rất mơ hồ như: thường xuyên chóng mặt, mệt mỏi, tim hồi hộp, lo sợ có thể có khó ngủ nữa. Việc chẩn đoán hội chứng này vừa dễ mà cũng vừa khó vì bệnh nhân không hề có một tổn thương thực thể nào. Các xét nghiệm đều trong giới hạn bình thường, có thể lầm lẫn với các triệu chứng của tình trạng trầm cảm, và có khi do chính thầy thuốc áp đặt một khi không tìm ra một chẩn đoán nào hợp lý cho bệnh nhân. Việc điều trị cũng rất khó khăn và kéo dài. Tuy bệnh không gây tử vong nhưng nó làm giảm đi rất nhiều chất lượng cuộc sống, chỉ gây ra khó chịu cho người bệnh và kéo dài làm thay đổi tâm lý. Do tính chất không nguy hiểm nên người bệnh thường không được quan tâm đúng mức, bị từ chối điều trị và càng làm cho bệnh nhân lo lắng. Để điều trị, bệnh nhân được dùng các thuốc điều trị triệu chứng gây khó chịu cho bệnh nhân. Hiện đối với thể bệnh bị trầm cảm người ta dùng thuốc chống trầm cảm, đối với rối loạn nhịp tim nhanh thì dùng thuốc kiểm soát nhịp tim và nói chung là điều trị triệu chứng. Bệnh nhân sau một thời gian bị bệnh thường rơi vào tình trạng trầm uất, lo lắng không tin vào cuộc sống và không tin vào y học. Rối loạn thần kinh thực vật điều trị hiệu quả tại Phòng khám Hoàn xuân đường Rối loạn thần kinh thực vật điều trị hiệu quả tại Phòng khám Hoàn xuân đường THEO ĐÔNG Y Hệ thần kinh thực vật là một bộ phận của hệ thần kinh trung ương. Gọi là thần kinh thực vật vì nó điều hoà các chức năng của cơ thể động vật giống như ở thực vật tức không theo ý muốn chủ quan của cơ thể. Thần kinh thực vật tham gia điều chỉnh các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết, chuyển hoá… cho nên trong đông y ngoài thuật ngữ chẩn đoán bệnhrối loạn thần kinh thực vật còn có những thuật ngữ khác: rối loạn thần kinh tim, rối loạn thần kinh giao cảm, rối loạn phó giao cảm, suy nhược thần kinh … Chứng Rối loạn thần kinh thực vật trong đông y còn gọi là rối loạn chức năng là do hoạt động thần kinh cao cấp quá mức căng thẳng, kích thích ngoài ý muốn, hoặc sau khi bị bệnh nặng, bệnh lâu dài, thể chất hư nhược, đến nỗi công năng tạng phụ, âm dương, khí huyết đều mất điều hòa mà dẫn đến rối loạn công năng. Đông y thường thì dựa vào triệu chứng bệnh, tìm ra gốc bệnh, rồi từ đó đề ra phương pháp chữa và bài thuốc phù hợp. CHẨN ĐOÁN 1. Thường có kích thích tinh thần hoặc tinh thần căng thẳng thời gian dài, lo nghĩ, hoạt động thần kinh khẩn trương quá độ là nhân tố gợi phát. 2. Bệnh này triệu chứng biểu hiện không như nhau, có người cảm thấy tim đập nhanh, cảm thấy như tim ngừng đập, có thể kèm theo mệt mỏi, hồi hộp, tim thổn thức, tinh thần bất an, sợ hãi, chóng mặt, có thể có đau đầu, tai ù, mắt hoa buồn nôn, nôn, thậm chí ngất, di tinh, liệt dương, cho tới một số chứng trạng không hạn chế cụ thể. Trên thực tế lâm sàng chữa bệnh này thì tôi thường gặp các thể, các dạng bệnh như sau: Phân loại Thể bệnh: Tùy mức độ bệnh mà có thể có các biểu hiện ít nhiều I. ÂM HƯ HỎA VƯỢNG Hay gặp ở người cao huyết áp, rối loạn tiền mãn kinh: hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, có thể có ù tai, Tim thổn thức, hồi hộp tay chân buồn bã, trong ngực nóng bứt rứt, người hay bừng nóng, mặt đỏ, hai gò má có thể đỏ, mệt nhiều về buổi chiều, lòng bàn tay chân nóng, đái nước tiểu vàng. miệng khô, họng khô, có thể táo bón, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, có thể có cảm giác vướng trong họng, khạc không ra nuốt không vào. ( có thể có viêm mũi mãn). Có thể có cơn đau vùng ngực từng lúc, cơn đau đầu, váng đầu, bứt rứt, dễ cáu gắt… ( Tùy mức độ bệnh mà có thể có các triệu chứng trên) Phân tích: Do thận suy yếu (chức năng thận), Tâm hỏa vượng nên hồi hộp, buồn bực, ít ngủ, có thể mỏi lưng. Bệnh nhiệt lâu ngày làm tổn thương chân âm, nên âm hư hỏa vượng quấy nhiễu Tâm thần sinh ra hồi hộp mất ngủ, Tâm hỏa bốc lên nên ù tai, choáng đầu, hoa mắt, miệng khô, lưỡi đỏ, trong người nóng bức bối. ( Giải thích đơn giản cho dễ hiểu: Thận chủ thủy: nước, Tâm là hỏa: lửa. Thận yếu -> nước không giập được lửa -> lửa bùng lên gây các triệu chứng trên) II. TÂM THẬN CÙNG HƯ + Tâm dương bất túc: gồm Tâm khí hư và Tâm dương hư. Biểu hiện chung: hồi hộp, đoạn khí, hụt hơi ( khi hoạt động nặng thêm như leo cầu thang, làm việc gắng sức, chạy bộ …), tức thở, tự ra mồ hôi, mồ hôi ra nhiều, mệt mỏi, hay thở dài, sắc mặt trắng bợt, mình hàn, tay chân lạnh, sợ lạnh, sợ gió, ngại tắm, khó chịu vùng tim, đau tim + Kèm thận hư: Đầu xoay tai ù, di tinh, buốt thắt lưng, phiền thao mất ngủ, nhiều mộng hay quên, có thể có họng khô, nước tiểu vàng, không mộng mà di tinh, Hoặc: hoạt tinh, dương suy xuất tinh sớm, sợ lạnh. hồi hộp hay thổn thức, chân tay lạnh, tiểu nhiều, nước tiểu trong, lạnh và sợ gió, ngại tắm, ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch …. Phân tích: Do dương khí suy yếu, tâm khí không đủ sức thôi động huyết mạch, thủy khí dâng lên gây hồi hộp, khó thở, tim đập nhanh. Phế khí hư yếu nên ra mồ hôi, sợ gió, sợ lạnh. Tâm dương hư nên thấy hiện tượng Hàn: nên người và chân tay lạnh. Bệnh có thể dẫn đến dương khí đại hư sẽ thấy nhiều mồ hôi, tứ chi lạnh, hồi hộp, ảnh hưởng tới thần chí, có thể đưa đến bất tỉnh. Giải thích đơn giản cho dễ hiểu: Bì mao ( da, chân lông) là phần ngoài cùng của cơ thể, có tác dụng bảo vệ cơ thể chống ngoại tà (gió, lạnh) xâm nhập. Mà Phế chủ bì mao nên khi phế khí kém sẽ dẫn đến thở ngắn, thở gấp, người mệt vô lực, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, có lúc sợ lạnh, gai rét, dễ bị Cảm mạo. Phế -> Tâm.

Đăng bởi: admin

Rối loại tiền đình

Đây là bệnh chứng thường gặp ở những người từ lứa tuổi trung niên hay người già. Bệnh xảy ra thường không có dấu hiệu báo trước. Dấu hiệu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm sau khi tỉnh dậy, người bệnh đột ngột choáng váng mọi vật chao đảo, kèm theo rối loạn thần kinh thực vật làm cho toàn thân vã mồ hôi hoặc có thể da mặt bị tím tái, tim đập nhanh, buồn nôn hay nôn mửa liên tục… Theo Đông y thường thấy biểu hiện bởi hai thể loại đó là “thực chứng” và “hư chứng”. Đối với thực chứng Đột nhiên ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, nhà cửa cảm thấy như đảo lộn, nghiêng ngửa buộc người bệnh phải luôn nhắm nghiền mắt và nằm xuống không sẽ bị ngã. Đây là trường hợp theo Đông y là do can hỏa hóa phong rồi bốc lên mà sinh bệnh là chủ yếu. Cũng có thể do đờm thấp đình trệ, mà làm khí thanh dương không đưa lên được khiến phát ra bệnh.Trong trường hợp thực chứng này người ta sử dụng phương “Thiên ma câu đằng ẩm” trích trong Tạp bệnh chứng trị tân nghĩa. Phương gồm các vị: Câu đằng 12g, ích mẫu 12g, ngưu tất 12g, phục thần 12g, sơn chi 12g, tang ký sinh 12g, dạ giao đằng 10g, đỗ trọng 10g, hoàng cầm 10g, thạch quyết minh sống 20g, thiên ma 8g, hà thủ ô trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần trong ngày. Uống 3 – 5 thang liền. Phương “Nhị căn thang” (Phúc kiến Trung y dược). Tác dụng hoạt huyết hóa ứ, lợi thấp, khử đờm, trị rối loạn tiền đình, gồm: Cát căn 20g, hải đới căn 30g, xuyên khung 12g, bán hạ 10g, thạch xương bồ 16g, đại giả thạch 16g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 3 – 6 thang liền. Đối với hư chứng Triệu chứng cũng xảy ra đột ngột bị ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, cơn chóng mặt cũng có thể xảy ra trong chốc lát hay mấy tiếng đồng hồ hoặc vài ngày. Đây là bệnh chứng xảy ra chủ yếu do can, thận, tâm, tỳ suy, thận kém nên không nuôi dưỡng được can huyết mà làm cho can dương vượng lên khiến phát sinh bệnh. Với bệnh chứng này người ta thường sử dụng phương “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” trích trong Y cấp. Gồm các vị: Bạch cúc hoa 120g, câu kỷ tử 120g, đơn bì 120g, phục linh 120g, trạch tả 120g, sơn dược 160g, sơn thù 160g, thục địa 320g. Tất cả tán bột làm hoàn. Ngày uống 8 – 16g, chiêu với nước muối nhạt. Định huyễn thang (trích trong Trung Quốc Trung y bí phương đại hoàn). Tác dụng hóa đờm tức phong, kiện tỳ khử thấp, trị rối loạn tiền đình, gồm: Bạch tật lê 20g, trạch tả 20g, thiên ma 16g, bán hạ 16g, đạm trúc diệp 12g, phục thần 12g, cát nhân 12g, long cốt 30g (sắc trước). Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 5 – 10 thang liền. Rất hiệu nghiệm. Chỉ huyễn trừ vựng thang (trong Trung Quốc Trung y bí phương đại toàn). Tác dụng hóa đờm, lợi thấp, khử ứ, trị rối loạn tiền đình, gồm bán hạ 12g, ngưu tất 12g, sinh khương 12g, xa tiền tử 30g, trạch lan 16g, quế chi 16g, bạch truật 20g, hổ phách 6g, đan sâm 24g, phục linh 24g, mẫu lệ 40g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần trong ngày. Cần uống 5 – 7 thang liền sẽ hiệu nghiệm. (Sức khoẻ và Đời sống)

Đăng bởi: admin

Quay trở về    Đầu trang